Kỹ thuật nuôi cá mú thương phẩm trong ao đất

Cá mú nước ngọt

Những năm gần đây, nghề nuôi cá mú ở nước tôi phát triển mạnh. Tỉnh Cà Mau tự làm giàu đối tượng nuôi, năm 2013 phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia Thủ đô (thuộc dự án phát triển nuôi trồng thủy sản nước lợ) và Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Cà Mau thực hiện mô hình nuôi cá mú ao đất , với quy mô 7.000 hạt, các hộ Yuxian Quận 2 tham gia, sau 9 tháng canh tác, sau khi trừ hết chi phí mỗi hiệp thu hái đã mang lại hiệu quả kinh tế cao cụ thể. Lợi nhuận vượt 100 triệu đồng.

>>>Xem thêm: Tìm hiểu một số bệnh thường gặp khi nuôi cá mú

Kỹ thuật nuôi cá mú thương phẩm trong ao đất

Bạn đang xem: Cá mú nước ngọt

Để nuôi cá mú đạt hiệu quả, hạn chế dịch bệnh phát sinh và nâng cao lợi ích kinh tế, người nuôi cần tuân thủ các biện pháp kỹ thuật sau:

1. Đặc điểm sinh học của cá mú:

Cá nhóm là loài cá nước mặn sống ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tập trung giữa nhiều loài ở Thái Bình Dương. Nước tôi có khoảng 30 loài cá mú, trong đó có 7 loài được ưa chuộng vì giá trị cao và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, đó là: cá mú đốm (e. brunneus), cá mú tổ ong (e. merra), cá mú đá đỏ Spotted. cá (epinephelus akaara) ), đốm nâu (e. fuscoguttatus), đốm cáo (e. megachir), đốm đen (e. heeberi), cá mú béo (e. tauvina).

Cá mú thường sống ở các hốc đá, ao hồ, ven biển quanh đảo có rạn san hô, thường ở độ sâu 10-30m, chịu được độ mặn 11-41‰. Khoảng nhiệt độ thích hợp nhất là 22-280c ​​là 25-280c, ở 180c cá bắt đầu giảm ăn, ở 150c cá gần như ngừng hoạt động.

Cá mú thuộc đàn cá hung dữ, ăn mồi động vật, thường săn mồi ở những nơi vắng vẻ, khi không đủ mồi con lớn ăn con nhỏ. Cá mú đẻ trứng, cá con mới nở ăn động vật phù du, cá lớn 8-12 cm và động vật sống như cá con, tôm, tép… Cá mú ít ăn mồi chết, chìm.

Cá mú đẻ trứng nổi chứa hạt có dầu. Mùa vụ sinh sản của cá mú ở miền Bắc là tháng 5 và tháng 7, ở miền Trung là tháng 12 và tháng 3. Tất cả con đực, giống như cá. Nhưng những con mập mạp, cá dưới 50cm đều là cá cái, đến hơn 70cm thì thành cá đực.

Cá mú đủ trưởng thành để sinh sản cả trong tự nhiên và nuôi nhốt, sinh sản theo chu kỳ mặt trăng.

Một hiện tượng thú vị là giới tính của nhóm cá này đã thay đổi. Chúng là con cái khi còn trẻ, nhưng trở thành con đực khi đạt đến một kích thước và độ tuổi nhất định. Cá mú có thể đẻ quanh năm nhưng tập trung vào các tháng lạnh, nhiệt độ xuống thấp nên ở các vùng mùa vụ đẻ cũng khác nhau. Khả năng sinh sản của cá khá cao, mỗi con cá cái có thể đẻ từ hàng trăm nghìn đến vài triệu trứng.

2. Xây dựng, cải tạo ao nuôi:

2.1. Xây ao:

– Nên chọn nơi có địa hình thuận lợi, đất đai màu mỡ, ít phèn.

– Ao có nguồn nước tốt và liên tục.

– Giao thông thuận tiện, an toàn và đảm bảo.

– Ao ương: Diện tích 500 – 5000m2.

– Độ sâu: 1,5 – 1,7m.

2.2. Cải tạo ao nuôi:

– Xả nước.

<3

– Bón vôi: caco3 (1000 kg/ha).

– Phơi quần áo: 5-7 ngày.

-Lớp lấy nước: qua túi lọc, đến mực nước 1,5m.

-Diệt tạp chất, diệt khuẩn.

– tạo ra màu nước.

– Nuôi cấy vi sinh vật.

Xem thêm: Chó Bị Tiêu Chảy: Phải Làm Sao Mới Không Chết?

– Tất chân.

3. Chọn giống:

3.1. Như:

– Có thể thả các loài cá thu tự nhiên có kích cỡ 5-7 cm hoặc 10-15 cm, hoặc chọn các loài cá nuôi nhân tạo, cá không có vết trầy xước, dị tật, màu sắc tươi sáng, thao tác nhanh nhẹn.

3.2. Mật độ thả: Đây là loài cá hung dữ, có thể cắn nhau khi thiếu mồi nên mật độ thả 1-3 con/m2.

4. Nguồn cấp dữ liệu và quản lý nguồn cấp dữ liệu:

– Cho ăn cá linh tươi hàng ngày: cá rô phi, tôm, cua… Cá linh rửa sạch, cắt miếng vừa miệng cá, liều lượng sử dụng hàng ngày từ 3% đến 10% trọng lượng thân , tùy từng trường hợp.giai đoạn. các giai đoạn phát triển của cá.

– Trong tháng đầu tiên cho ăn 10% trọng lượng cơ thể, ngày 3 lần. Trong vài tháng tiếp theo, cho ăn 2 lần/ngày, dùng sàng đặt dưới ao và cho ăn khi cần thiết. Kiểm tra sàng hai lần một ngày sau khi cho ăn để tránh ô nhiễm nước ao bởi thức ăn dư thừa.

– Khi cá ăn mạnh, thường xuyên trộn vitamin c và men tiêu hóa vào thức ăn trong 5 ngày liên tục, sau đó cứ 5 ngày bổ sung một lần.

-Dưới ao bố trí bụi rậm, ống nhựa có đường kính 10-20 cm để cá trú ẩn, tránh trường hợp cá tấn công lẫn nhau gây trầy xước và nhiễm trùng cơ hội. Lấy mẫu định kỳ bằng cách lấy ống nhựa để kiểm tra sức khỏe và tốc độ tăng trưởng của cá.

5. Quản lý môi trường ao nuôi:

Các chỉ tiêu môi trường nước quan trọng cần ổn định như sau:

+ ph: 7.5 – 8.5, pH dao động ngày đêm không vượt quá 5.

+ Độ kiềm: 80 – 160 mg/L.

+ nh3 <0,1 mg/L.

+ h2s <0,03 mg/L.

+ do >4mg/l.

+ Độ mặn: 10 – 20 .

+ Độ trong: 30 cm.

-Luôn đảm bảo thay nước theo thủy triều. Khi thay nước cần kiểm tra độ mặn, không nên thay nước vào những ngày mưa dễ làm cá bị bệnh.

– Định kỳ cấy vi sinh để ổn định môi trường đáy và phân mùn hữu cơ.

6. Quản lýssức khỏeSức khỏe vật nuôi:

6.1. Quản lý sức khỏe:

<3

– Trước khi thả giống phải tắm qua dung dịch Malachite Green nồng độ 5 – 10 ppm (5 – 10 g thuốc trên 1 m3 nước) (thuốc đã bị cấm theo NĐ 20/2003)/ qđ – BTS). Tắm trong 10-15 phút.

– Không cho cá ăn các loại thức ăn ươn, mốc.

– Vợt và ngư cụ phải được vệ sinh thường xuyên.

Xem thêm: Cá thần tiên

6.2. Phòng và điều trị các bệnh thông thường:

6.2.1. Bệnh đốm đỏ, sung huyết do vi khuẩn:

– Triệu chứng: thân cá, gốc vây ngực, vây lưng, đuôi có nhiều đốm đỏ, lở loét, hậu môn sưng tấy, nặng thì mất vảy, lở nhiều và chết.

– Điều trị: Ngâm với dung dịch kháng sinh oxy tetracycline 10g/m3 trong nước từ 5 -10 phút.

Làm sạch vết thương cho cá bằng dung dịch thuốc tím KMNO4 (10 ppm), sau đó bôi thuốc mỡ tetracycline.

Điều trị liên tục trong 3 ngày. Trộn thuốc oxy tetracycline với liều lượng 0,5gr/kg thức ăn trong 7-8 ngày.

6.2.2. Bệnh cơ hoại tử:

Sau khi đánh bắt hoặc vận chuyển cá có vết thương bị nhiễm bệnh. Mủ trắng từ vết thương chảy ra, da thịt mưng mủ, lan ra toàn thân. Cá bỏ ăn, bơi chậm và chết.

Phòng ngừa:

– Tắm trong dung dịch oxy tetracycline 25 ppm trong 5 – 10 phút mỗi ngày một lần.

– Rửa vết thương bằng dung dịch nitrofurazon 0,05% (3-5 phút) và tắm ngày 1 lần.

– Rửa vết thương bằng dung dịch kmno4 (0,01%), sau đó lau khô và bôi thuốc mỡ tetracyclin lên vết thương.

– Bổ sung sulfonamid vào thức ăn: 1 kg cá cho 100 – 200 mg sulfonamid hoặc 20 – 50 mg kháng sinh/1 kg cá.

6.2.3. Rối loạn vi khuẩn đường ruột:

– Do Aeromonas gây ra. Cá bỏ ăn, lờ đờ, sưng ruột và chết do chảy máu ruột nặng.

– Phòng trị: Trộn thuốc vào thức ăn cho cá và dùng trong 5-7 ngày. 100 – 200 mg sulfonamid cho 1 kg cá, hoặc 20 – 25 mg kháng sinh cho 1 kg cá.

6.2.4. Bạch biến:

– Do chích tiêm chích lông mao. Đao và mang cá nhớp nháp, cá thở thoi thóp bơi chậm trên mặt nước. Căn bệnh lây lan nhanh chóng và giết chết nhiều người.

– Phòng bệnh: Ngâm cá trong dung dịch đồng sunfat pha với nước biển nồng độ 2 ppm trong 2 giờ. Ngâm ngày 1 lần cho đến khi đông đặc lại.

– Ngâm cá trong nước ngọt 3 ngày liên tục, mỗi ngày 1 lần, mỗi lần 4-5 phút.

– Ngâm cá trong dung dịch clo hoặc kmno4 (5 – 8 ppm) pha với nước ngọt. Ngâm trong 2-3 phút, mỗi ngày một lần.

7. Thu hoạch và bảo quản sản phẩm:

Trong thời kỳ thu hoạch nên có bể cá có hệ thống sục khí mạnh. Khi cá được kéo lên và đưa vào bể cá, nó có thể giúp cá khỏe mạnh, thích nghi với môi trường chật hẹp và giảm tỷ lệ hao hụt trong quá trình vận chuyển. Bạn cũng có thể dùng đá lạnh nhỏ giọt vào bể cá để hạn chế hoạt động của cá, tránh xây xát, tăng giá trị cá thương phẩm.

Xem thêm: Tên các loại cá betta & tổng hợp mẫu cá betta đẹp số 1 Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *