RẮN HỔ MÈO CẮN

Rắn hổ

Chung

Rắn hổ mang chúa có tên khoa học là naja siamensis (rắn hổ mang chúa), thuộc họ rắn hổ mang. Rắn có màu xanh vàng nhạt, dài khoảng 0,2-1,5m, nặng 100-3000 gam, mang có thể lồi (có hai cặp kính, không có gọng), ngẩng cao đầu và phun nọc độc. Rắn thường sống ở những nơi khô cằn, cao nguyên như gò mối, hang hốc hoặc xung quanh nhà như gốc củi, gầm chuồng gà, chuồng lợn và các hốc quanh nhà, nơi rắn dễ kiếm mồi và dễ gây tai nạn.

Lý do – Dịch tễ học

Đây là loài rắn độc rất nguy hiểm thường được tìm thấy ở các nước nhiệt đới Đông Nam Á: Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.

Ở nước ta, rắn hổ mang mèo phổ biến ở các tỉnh Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Vết cắn của rắn hổ mang và mèo chiếm 10% số ca nhập viện do rắn độc cắn ở Chợ Tây Nguyên, dẫn đến tử vong hoặc để lại nhiều di chứng tàn tật nếu không được hỗ trợ sự sống. Nọc rắn hổ chứa nhiều loại độc tố, trong đó độc tố tế bào chiếm tỷ lệ cao nhất, khi bị rắn cắn sẽ có các triệu chứng lâm sàng toàn thân nhưng không gây nhiễm độc thần kinh.

Bạn đang xem: Rắn hổ mèo

Chẩn đoán

Lâm sàng

Hỏi bệnh nhân về tiền sử rắn cắn, dịch tễ học và xác định rắn hổ mang dựa trên vết rắn cắn đưa đến bệnh viện

Triệu chứng lâm sàng tại chỗ: Các bệnh nhân sau đây bị rắn hổ mang, mèo cắn rất đau (100% trường hợp). Chi thể bị cắn sưng nề (100%) và lan nhanh dẫn đến hoại tử vết cắn (88,2%). Bóng nước (17,6%) thường xuất hiện muộn hơn do sưng nhanh, thường quanh các vị trí hoại tử hoặc nếp gấp tự nhiên như cổ tay, khuỷu tay. Các mụn nước rất đa dạng, có màu đen và rất hôi. Hoại tử thường lan rộng khắp phần chi bị cắn thông qua dẫn lưu bạch huyết, vì vậy thường phải cắt bỏ vết thương lớn, sau đó là ghép da hoặc lật vạt da. Ngoài ra, bệnh nhân có thể bị viêm kết mạc-viêm giác mạc (11,8%) do bị nọc rắn phun vào mắt.

Triệu chứng toàn thân: Sau khi bị rắn hổ mang cắn, người bệnh thường cảm thấy mệt mỏi, suy nhược (70,6%), nôn (52,9%), đau bụng (52,9%), tiêu chảy (47,1%), mờ mắt (17,6%), chóng mặt (17,6%), nhức đầu (23,5%) và đau cơ (82,4%). Các triệu chứng sốc (5,9%), nhịp tim nhanh (17,6%), suy thận cấp (11,8%) xuất hiện chậm hơn sau vài giờ đến vài ngày. Các triệu chứng này xuất hiện càng nhanh thì độc tính toàn thân càng nghiêm trọng. Không quan sát thấy triệu chứng nhiễm độc thần kinh (liệt cơ). BN khó thở (23,5%), nhưng không có suy hô hấp. Các trường hợp suy hô hấp có xu hướng xảy ra ở giai đoạn cuối do suy đa cơ quan.

Cận lâm sàng

Xét nghiệm đông máu toàn diện để xác định rối loạn cầm máu trong các trường hợp nặng: TC (mắt trắng), pt và apt kéo dài. Tiểu cầu không giảm. Fibrinogen/công thức máu bình thường và cục máu đông không rút lại được.

Công thức máu bình thường. Số lượng bạch cầu cao sớm sau khi bị cắn phản ánh mức độ nghiêm trọng của bệnh.

Kiểm tra sinh hóa: bun, creatinine, ast, alt và ion đồ đều trong giới hạn bình thường. cpk, ldh, ckmb tăng rất cao, nhưng troponin i không tăng hoặc tăng nhẹ. Suy thận cấp có búi tóc và tăng creatinine thường gặp trong nôn mửa và tiêu chảy lâu ngày. Myoglobin huyết và nước tiểu tăng cao.

Kiểm tra vi sinh: morganella morganii ss là vi khuẩn phổ biến trong nuôi cấy vết thương và mụn nước. morganii, proteus Vulgaris và Providencia sp có khả năng kháng lại các loại kháng sinh như colistin, amoxicillin + axit clavulanic, doxycycline và cefuroxim.

Đã xác nhận

Qua các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và dịch tễ học của rắn hổ chúa và rắn hổ mèo, bệnh nhân được đưa đến bệnh viện và được xác định là rắn hổ mang chúa.

Cấp độ lâm sàng

Dựa trên các dấu hiệu tại chỗ, toàn thân và xét nghiệm:

Không độc: có vết răng, không có triệu chứng tại chỗ và toàn thân. kiểm tra bình thường

Ngộ độc nhẹ (5,9%): có dấu răng, triệu chứng tại chỗ (đau nhẹ, sưng không quá 01 khớp, chu vi chi lớn nhất không quá 2cm, không hoại tử), không dấu hiệu gì. Kiểm tra trong phạm vi bình thường.

Ngộ độc vừa (58,8%). Phát hiện cpk, ldh, myoglobin trong máu và nước tiểu tăng nhẹ.

Ngộ độc nặng (35,3%): dấu răng, triệu chứng tại chỗ (đau, sưng trên 2 khớp hoặc sưng lan ra thân, chu vi tối đa của chi > 4cm, hoại tử rộng > 2cm2), phát ban toàn thân, rối loạn đông máu ; cpk , ldh, myoglobin trong máu và nước tiểu đều tăng.

Chẩn đoán phân biệt

Các loài rắn độc khác thuộc họ rắn hổ mang, chẳng hạn như:

Rắn hổ mang (naja kaouthia, rắn hổ mang đơn bào): Phổ biến ở Tây Nam Bộ. Hình dạng thật: Trên lưng có hình tròn (một thị kính, không đeo kính), phía bụng có ba khoang màu đen (hoặc nâu) nên còn gọi là rắn ba khoang. Trạng thái lâm sàng nhiễm độc thần kinh dẫn đến suy hô hấp nghiêm trọng.

Rắn hổ mang chúa (naja atra), phổ biến ở miền bắc và miền trung. Hình thật: Có hình tròn ở gáy nhưng có 2 đường như 2 gọng (1 thị kính, 2 gọng). Các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng tương tự như rắn hổ mang nhưng tính độc thần kinh là nổi bật.

Rắn hổ mang chúa (ophiophagus hannah, king cobra) phổ biến khắp cả nước. Serpentine: Loài rắn lớn nhất thế giới, dài tới 10m và nặng 20kg. Màu vàng hoặc đen đặc. Vảy đầu có 2 vảy cổ lớn. Khi rắn ngẩng đầu lên, mang của chúng dài và hẹp. Các dấu hiệu lâm sàng và xét nghiệm gần giống với rắn hổ mang và mèo nên khó phân biệt nhưng diễn biến lâm sàng rất nhanh và nặng. Triệu chứng tại chỗ thường là nhiều vết cắn nên thường có dấu răng hơn. Lâm sàng có hội chứng nhiễm độc thần kinh gây suy hô hấp.

Xem thêm: Mua Bán Chim Vẹt Xanh, Vẹt Yến Phụng Biết Nói Giỏi, Giá Rẻ Toàn quốc

Rắn rắn. Hình dạng rắn: khoang đen và khoang trắng. bungarus candidus, rắn lục Mã Lai: dưới 32 ngăn phổ biến ở miền trung và miền nam. bungarus multicinctus, eo biển Trung Quốc: hơn 32 ngăn là bọ cạp miền

Bắc. bungarus fasciatus, banded krait: khoang đen khoang vàng. Rắn đầu đỏ (bungarus flaviceps, red-head krait): khoang đen, khoang trắng, đầu đỏ. Tình huống bị rắn cắn nói chung là bệnh nhân nửa đêm đang ngủ bị rắn cắn; hoặc ban đêm lội ruộng, ao hồ… các triệu chứng tại chỗ bình thường (không sưng tấy, 2 vết răng nhỏ không hoại tử). , đau hoặc tê nhẹ, không nổi mụn nước ) nhưng có triệu chứng lâm sàng suy hô hấp và nhiễm độc thần kinh nặng.

Rắn biển: Thường bị cắn ở biển hoặc dưới nước. Dấu hiệu lâm sàng nổi bật là suy hô hấp và nước tiểu sậm màu (do hoại tử cơ).

Điều trị

Nguyên tắc xử lý

Sơ cứu:

Trấn an bệnh nhân. Đặt bệnh nhân nằm trên mặt phẳng và hạn chế cử động. Chi thể bị cắn có thể được đặt thấp hơn tim.

Làm sạch vết cắn và băng ép bằng băng đàn hồi từ vết cắn đến gốc chi (có thể băng toàn bộ chi). Phương pháp ấn cố định chỉ phù hợp với các vết cắn của rắn thuộc họ rắn hổ mang, do độc tính thần kinh, tử vong nhanh hơn nên không được khuyến cáo với các loài rắn độc. Nhưng sau khi bị rắn cắn, người bệnh khó phân biệt được đó là loại rắn nào nên có thể áp dụng cho mọi trường hợp bị rắn cắn đảm bảo cứu sống ngay.

Ống đỡ được sử dụng để cố định chi bị cắn nhằm hạn chế sự phân bố nọc độc trong cơ thể.

Không được tháo nẹp và băng ép cho đến khi bệnh nhân được chuyển đến bệnh viện với chất kháng nọc độc cụ thể để điều trị. Nếu bệnh nhân có garô động mạch-tĩnh mạch ở chi bị cắn, hãy cố định phần trên và dưới của chi bị cắn đúng cách. Sau đó nới dần garô ra gốc chi và nén chặt phần c n, sau đó tháo garô ra. Nếu bạn chắc chắn đó là vết rắn hổ mang cắn, bạn không cần đến Gallo. Theo dõi chặt chẽ các triệu chứng lâm sàng toàn thân.

Không cắt hoặc rạch vì có thể gây chảy máu và nhiễm trùng.

Đừng lãng phí thời gian tìm kiếm một nhà trị liệu, hút thuốc làm chậm quá trình chuyển giao.

Chuyển nhanh người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất để đảm bảo đường thở và khả năng sống sót (thổi ngạt, hồi sức tim mạch).

Nếu cần thiết và có thể, bạn nên tìm kiếm sự trợ giúp trực tuyến từ các chuyên gia có kinh nghiệm qua điện thoại, tư vấn y tế từ xa, …

Nếu nọc độc của rắn dính vào mắt bạn, hãy rửa mắt bằng vòi nước sạch trong ít nhất 15 phút. Không vắt chanh hoặc các dung dịch khác vào mắt vì có thể gây mù vĩnh viễn. Đến ngay cơ sở y tế để được điều trị.

Tại bệnh viện:

Kim được sử dụng để thiết lập đường IV để truyền chất lỏng.

<3

Máu và nước tiểu được lấy để xét nghiệm: công thức máu toàn phần, đông máu: (pt, aptt, tiểu cầu, fibrinogen, cục máu đông), bun, creatinine, ast, alt, ionogram, ldh, cpk, myoglobin , phân tích nước tiểu và myoglobin/đường tiết niệu , ECG, khí máu động mạch.

Theo dõi chặt chẽ bệnh nhân để phát hiện các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm độc tiến triển.

Điều trị triệu chứng – hỗ trợ

Điều trị cụ thể

Hiện nay trên thế giới chưa có thuốc đặc trị nọc rắn hổ mang. Antivenom đã được phát triển và sản xuất thành công tại Việt Nam và cần thử nghiệm lâm sàng trước khi có thể sử dụng trong thời gian tới. Antivenom không hiệu quả về mặt lâm sàng khi được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân bị rắn hổ mang cắn.

Chăm sóc hỗ trợ

Vì không có rắn hổ mang và mèo nên điều trị triệu chứng là giải pháp duy nhất trong khi chờ nọc độc được loại bỏ: thở máy, hồi sức tim mạch, truyền máu, vắc xin uốn ván, kháng sinh, truyền dịch, cân bằng kiềm toan, điện giải, phẫu thuật Cắt bỏ và ghép da.

Corticosteroid được dùng với liều 1-2 mg/kg thể trọng trong 5 ngày, thường dùng kèm với methylprednisolone (solumedron) trong thời gian nôn nhiều.

Xem thêm: Mua Bán Chó Becgie Đức, Bỉ, Nga Đẹp Thuần Chủng, Lai, Giá Rẻ

Khi cpk, ldh, myoglobin huyết và nước tiểu tăng cao, tích cực lợi tiểu và kiềm hóa nước tiểu để phòng ngừa suy thận cấp, nhiễm toan và tăng kali máu.

Khi bị sốc, đặt ống thông tĩnh mạch trung tâm. Đền bù khi cvp thấp. Dùng thuốc vận mạch như norepinephrine, dopamin sau khi đã bù nước, cvp >10cm nước nhưng huyết áp vẫn thấp và lượng nước tiểu ít. Kết hợp với dobutamin liều 5-25 μg/kg/phút trong điều trị suy tim cấp do viêm cơ tim và hoại tử cơ tim, tỷ lệ tử vong giảm.

Nhóm cephalosporin thế hệ 3 được sử dụng với kháng sinh: ceftriaxone 2g/ngày kết hợp với metronidazole 1,5g/ngày hoặc nhóm quinolone kết hợp với metronidazole.

Tiêm phòng uốn ván.

Khi bị rắn độc phun vào mắt, cần rửa mắt liên tục bằng nước muối sinh lý (natri clorid 0,9% 500ml). Nhỏ mắt dùng thuốc nhỏ mắt chống viêm không steroid và kháng sinh, ngày 6 lần, liên tục 3-5 ngày. Đi khám bác sĩ nhãn khoa để được điều trị thích hợp.

Nỗi hoại tử nên được cắt bỏ càng sớm càng tốt. Những bệnh nhân này rất nhạy cảm với thuốc mê, an thần dẫn đến suy hô hấp phải thở máy. Gây tê vùng thường tốt hơn gây mê toàn thân.

Oxy cao áp có thể được sử dụng để điều trị hoại tử, nhưng hiệu quả còn hạn chế.

Tiến triển và biến chứng

Tiến độ

Một vết rắn hổ mang cắn cần được theo dõi trong 24 giờ. Nếu không có triệu chứng ngộ độc: Xuất viện. Nếu có biểu hiện ngộ độc: nhập viện. Tỷ lệ tử vong cao ở người lớn và trẻ em.

Biến chứng hoại tử

Phẫu thuật thẩm mỹ và ghép da trong trường hợp mất da nhiều và sẹo co rút.

Phòng ngừa

Tránh bị rắn hổ mang cắn tại nơi làm việc hoặc trong cuộc sống: Tránh nắm lấy hoặc chơi với rắn, ngay cả khi rắn đã chết (có thể bị cắn theo phản xạ 2 giờ sau khi chết). Khi xem rắn phải đứng cách chuồng rắn trên 2m để tránh rắn phun độc vào mắt.

Hãy đi ủng khi ra ngoài làm vườn hoặc làm việc trên cánh đồng.

Dùng gậy chống vào cây và bụi rậm để đuổi rắn ra ngoài trước khi chúng chui vào.

Phát quang bụi rậm quanh nhà.

Ngủ trên giường, không ngủ dưới sàn.

Làm chuồng lợn, gà cách xa nhà và tránh đống cỏ xung quanh nhà

Điều kiện để rắn ẩn nấp, bò lổm ngổm gây tai nạn.

Tài liệu tham khảo

lean other (2003), Đánh giá lâm sàng vết rắn cắn ở Việt Nam: một nghiên cứu từ Bệnh viện Ray Singapore, luận án msc nus, Singapore.

warrel AD (2010), Hướng dẫn quản lý rắn cắn, Tổ chức Y tế Thế giới.

Xem thêm: 8 giống chó lông dài, xù GIÁ RẺ được yêu thích nhất tại Việt Nam

Xem thêm: 8 giống chó lông dài, xù GIÁ RẺ được yêu thích nhất tại Việt Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *